Follow page lỏ của sốp để xem sốp thỉnh thoảng múa mồm vài câu
đọc các bộ cùng tác giả tại đây
Bản dịch thuộc về Ekaterina Team, cập nhật duy nhất trên trang web navyteamn.com, đọc tại trang web chính chủ để ủng hộ nhóm dịch. Truyện không đủ view có thể sẽ bị drop.
Chương 151
Cửa sổ phòng ngủ anh hướng thẳng Đại lộ Bắc Michigan, phóng tầm mắt ra Tháp Willis và Tháp John Hancock hùng vĩ - một trong những góc ngắm toàn cảnh Chicago tuyệt nhất. Trong khi đó, phòng khách rộng rãi với những ô cửa sổ hướng Bắc và Đông mở ra một khung cảnh khoáng đạt và dịu mát hơn. Phía sau lưng Tháp John Hancock, vượt qua những khối kiến trúc của một chuỗi khách sạn danh tiếng khác, đường chân trời của Hồ Michigan hiện lên mờ ảo tựa biển khơi, còn về phía Đông, Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Chicago nằm ngay trong tầm mắt.
Căn phòng của tôi, một phòng ngủ khác trong cùng dãy suite, lại hướng mặt ra Đại lộ Magnificent Mile lộng lẫy, nơi những cửa hiệu sang trọng tấp nập qua khung cửa sổ phía Nam và Đông.
Chị Yu Ni thoáng chút ngạc nhiên khi biết anh và tôi ở chung một dãy phòng, nhưng rồi nhanh chóng tự lí giải rằng, với hai phòng ngủ và hai phòng tắm thì việc thuê thêm một phòng khác là không cần thiết, rồi tỏ vẻ đồng tình. Có lẽ do quá choáng ngợp trước tấm vé hạng nhất và khách sạn năm sao mà anh chuẩn bị, nên chị dễ dàng bỏ qua những nghi ngờ nhỏ nhặt.
Chuyến công tác lần này có tổng cộng năm người: tác giả Shushu, chị Yu Ni, anh, tôi và bác tài xế. Nhờ sự chu đáo của anh, cả đoàn được di chuyển trong sự thoải mái của vé hạng nhất. Chị từng giải thích rằng, vé khứ hồi hạng nhất đến Chicago có giá dao động khoảng 12 triệu Won. Nghe xong mà khiến tôi không khỏi bồn chồn.
Khác với tôi đang lo lắng vô cớ và dò xét sắc mặt chị, thì anh dường như chẳng màng để ý đến không khí xung quanh. Anh chỉ ngồi trên ghế sofa trong phòng khách của suite để ký các giấy tờ thay vì ra quầy lễ tân.
Bỏ qua bác tài xế… Mặc cho cậu Shushu và chị vẫn còn trong phòng khách, nhưng anh chả thèm để ý, chỉ nhẹ nhàng vuốt tóc tôi, hỏi về lịch trình buổi chiều bằng một giọng điệu đặc biệt dịu dàng, khiến tôi hoảng hốt đảo mắt khắp nơi, lắp bắp không thành lời.
Có lẽ anh thực sự nghĩ rằng, chẳng sao cả nếu mọi chuyện cứ để mọi người nhận ra. Suy đi nghĩ lại, việc cố ý tuyên bố chúng tôi đang hẹn hò nghe có vẻ… kỳ quặc.
Tôi chợt nhớ lời khuyên của anh Joo Han: anh không phải là một đối tượng hẹn hò tốt, và tôi nên dứt khoát buông bỏ nếu chỉ là mối tình đơn phương. Giờ đây, tôi tự hỏi vẻ mặt anh ấy sẽ ra sao, khi biết tôi đang hẹn hò với chính người mà anh ấy đã từng ra sức ngăn tôi đến gần. Rồi chị Yu Ni và Trưởng phòng nữa…
Tôi hơi gượng gạo khi có những nỗi niềm bâng quơ như thế, bèn bĩu môi thở dài rồi lại cầm lấy bút chì. Tôi đang phác họa khung cảnh trung tâm Chicago lúc hoàng hôn, ngồi bên cửa sổ phòng ngủ của anh, chờ anh tắm xong.
"Thế là cả buổi chiều em đã ở Bảo tàng Nghệ thuật Chicago rồi?"
Anh bước ra từ phòng tắm trong bộ áo choàng, hỏi tôi với một nụ cười. Ngay cả cử chỉ lau khô mái tóc ướt cũng đủ khiến trái tim tôi xao xuyến đến ngớ ngẩn.
Tôi gật đầu, nở một nụ cười ngượng ngùng, có lẽ vì kế hoạch tôi kể với anh trước đó nghe có vẻ hoành tráng quá.
Anh dựa lưng vào bức tường ở lối vào phòng thay đồ dài như hành lang, hai tay trong túi áo choàng.
"Bởi vì quy mô của nó khác hẳn những phòng trưng bày thông thường mà."
Đúng như anh nói.
Tôi không quá ấn tượng bởi danh hiệu một trong ba bảo tàng nghệ thuật lớn nhất nước Mỹ, nhưng trong vô số phòng trưng bày đa dạng đang hoạt động sôi nổi như thế, tôi nghĩ hẳn phải có lí do khiến nơi này là điểm đến không thể bỏ lỡ ở Chicago. Nơi đây sở hữu khoảng 300,000 tác phẩm, được phân bố giữa hai tòa nhà lớn: tòa nhà chính và tòa nhà phụ.
"Em đã cố xem hết rồi, nhưng... đến cả tầng 1 với tầng hầm của tòa nhà chính còn chưa đi xong nữa, chưa kể còn cái tòa nhà phụ to đùng kia ấy."
Chúng tôi hạ cánh xuống Sân bay O'Hare lúc 10 giờ sáng, nhận phòng khách sạn vào giữa trưa, rồi anh cùng chị Yu Ni và tác giả Shushu đã đi họp với phòng trưng bày tổ chức triển lãm.
Tôi đã vạch ra kế hoạch cho riêng mình: một mình khám phá Bảo tàng Nghệ thuật Chicago và hai phòng trưng bày lân cận, cho đến khi mọi người trở về khách sạn để chuẩn bị cho bữa tiệc khai mạc dành cho giới VIP vào buổi tối.
Nhưng kế hoạch ấy hóa ra lại quá tham vọng. Chỉ riêng Bảo tàng Nghệ thuật Chicago với không gian rộng lớn và vô số kiệt tác, khiến tôi không thể nào thưởng ngoạn hết được.
Có lẽ đã cảm nhận được sự tiếc nuối thoáng qua trong tôi, anh quay lại, nghiêng đầu quan sát tôi một lúc. Rồi anh nhoẻn miệng cười, nghịch ngợm vẫy ngón trỏ ra hiệu trước khi biến vào căn phòng thay đồ. Tôi gác lại ý nghĩ về cách diễn tả ánh đèn thành phố đang bắt đầu lấp lánh trong màn đêm buông xuống, và nhẹ bước đi theo anh.
Anh đang chọn trang phục dự tiệc trước tủ quần áo ở cuối phòng. Tôi ngồi xuống chiếc ghế bọc nhung đặt giữa ngăn kéo và tấm gương toàn thân, đối diện lối vào phòng tắm.
"Thế nào? Chắc là em thích nhất tầng 2 của tòa nhà chính phải không?"
Tôi đưa tay xoa sau gáy, bật cười vì dự đoán chính xác của anh. Quả thực, tầng hai của tòa nhà chính trưng bày các kiệt tác hội họa châu Âu từ thế kỷ 15. Những bức tranh mà ngày nhỏ tôi từng mê mẩn trong các cuốn sách minh họa, giờ đây hiện ra trước mắt vô cùng chân thực. Ngày ấy, tôi chỉ say sưa ngắm nhìn những hình ảnh rực rỡ mà chẳng buồn ghi nhớ tên tác giả hay danh xưng tác phẩm. Nhưng lần này thì khác.
Tôi dành hàng giờ đứng lặng trước những tác phẩm khiến trái tim mình rung động, cẩn thận chụp lại từng bức họa cùng phần chú thích (Bảo tàng Nghệ thuật Chicago cho phép chụp ảnh), và khắc sâu vào tâm trí tên những danh họa đã để lại trong tôi ấn tượng khó phai. Picasso, Monet, Rembrandt... Ngay cả một kẻ ngoại đạo như tôi cũng từng nghe danh họ. Tôi dừng chân rất lâu trước những kiệt tác đã quá đỗi quen thuộc, chỉ có điều trước giờ tôi không hề hay biết chúng thuộc về ai.
Từng đường nét, từng mảng màu của họ khiến tôi cảm nhận được một nội lực vô biên - sự kết tinh của vô số lần rèn giũa, của cả một đời người hiến dâng cho hội họa. Trái tim tôi trào dâng sự kính phục trước những sắc độ và đường cọ đạt đến cảnh giới, mà những kỹ xảo hời hợt hay sự bắt chước vụng về không thể nào với tới. Đó là chiều sâu chỉ có thể có được ở những tâm hồn đã chân thành dâng hiến thời gian và nhiệt huyết. Họ không đơn thuần là những họa sĩ may mắn, mà xứng đáng được tôn vinh là những bậc thầy, ngay cả khi họ đã qua đời.
"Thú thật là em luôn ưu tiên nội dung hơn hình thức, nên em thấy những tác phẩm đương đại mang tính đột phá, phá cách hơi khó để bắt kịp. Vì thế, em đã vô tình né xa nó. Thế nhưng, xem xong mấy phòng hôm nay, em hiểu rằng đâu phải họa sĩ đương đại nào cũng chỉ dùng hình thức dị biệt để gửi gắm thông điệp đâu. Khi nhìn nhận thoáng hơn, việc có đa dạng trường phái là chuyện tất yếu mà... Có lẽ em đã mang sẵn thành kiến vì kiến thức của mình còn giới hạn quá."
Tôi thú nhận điều ấy trong khi ánh mắt vô tình lướt theo bóng lưng anh. Lúc này, anh chỉ khoác mỗi chiếc quần boxer đen ôm lấy đôi chân săn chắc. Khi anh đã mặc xong đồ lót, tôi thấy anh chải chuốt mái tóc trước tấm gương chỉ phản chiếu nửa người. Tôi tựa thái dương vào cạnh tủ, ngước nhìn anh từ phía dưới.
Tôi kể cho anh nghe về ấn tượng của mình với Những người thức đêm - kiệt tác của Edward Hopper, một trong những tác giả đương đại khiến tôi xúc động.
Dù hoàn toàn là cảm nhận chủ quan, tôi tin rằng đường thẳng dài táo bạo cắt ngang bức tranh không đơn thuần là thủ pháp tạo ấn tượng. Với tôi, nó là kết quả của những trăn trở không ngừng nghỉ của tác giả trong hành trình tìm cách truyền tải thông điệp một cách hiệu quả nhất. Đối với một người luôn đề cao nội dung đến mức vô tình xem nhẹ hình thức như tôi, tác phẩm này mang đến cảm giác mới mẻ khó tả, như tìm thấy một lối đi bất ngờ.
Dù đây có thể là điều hiển nhiên với nhiều người, nhưng mỗi sự giác ngộ như thế vẫn vô cùng quý giá với tôi, kẻ vẫn luôn khép mình trong thế giới hội họa riêng biệt. Cái việc quan sát và thể hiện thế giới qua hội họa, rồi lại khám phá ra những chân trời mới trong chính quá trình ấy. Nhớ lại nó, cảm giác phấn khích ngày xưa bỗng ùa về, lan tỏa khắp cơ thể tôi.
Anh nghiêng đầu lắng nghe câu chuyện của tôi, rồi dựa người vào tủ quần áo đối diện, trên tay cầm chiếc áo sơ mi có đường ly ngực tinh tế.
"Thật lòng mà nói, anh hơi ngạc nhiên khi thấy em quan tâm đến một họa sĩ người Mỹ như Edward Hopper... Nhưng thôi, cũng không có gì khó hiểu lắm."
"......"
"Bởi vì, tôn chỉ của Edward Hopper rất rõ ràng: Nghệ thuật vĩ đại nhất, chính là nghệ thuật thể hiện xuất sắc nhất cái thế giới nội tâm của người sáng tạo ra nó."
Anh mỉm cười rồi kể cho tôi nghe những câu chuyện thú vị khác về Hopper, về những bộ phim lấy cảm hứng hoặc tri ân tác phẩm của ông như All About Shirley, Carol, và về Ánh sáng và bóng tối, một tuyển tập truyện ngắn của 17 tác giả được truyền cảm hứng từ những bức tranh của ông.
"Tác phẩm Phòng ở Brooklyn của Hopper được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Boston. Nếu em quan tâm, chúng ta có thể sắp xếp thời gian đến xem trong chuyến đi này."
Anh nói trong lúc cài những chiếc cúc áo sơ mi cuối cùng.
Sau ba ngày bốn đêm ở Chicago, thay vì trở về Seoul cùng mọi người, anh và tôi sẽ đến Boston. Đó là một chuyến đi ngắn ngày ba ngày hai đêm để thăm cặp vợ chồng ân sư, những người anh từng sống cùng khoảng hai năm thời thiếu niên. Chicago và Boston chỉ cách nhau chừng hai tiếng rưỡi bay, cũng là một khoảng cách không quá xa ở nước Mỹ. Vì đã lâu chưa về thăm, anh muốn nhân cơ hội này ghé thăm họ, và hỏi liệu tôi có muốn cùng đi không. Đó là cơ hội để gặp những người quan trọng với anh, để hiểu anh hơn, tôi nào có lý do gì để từ chối chứ? Và trong lòng tôi, những mong đợi thầm kín về một hành trình chỉ có hai chúng tôi cũng dần nhen nhóm.
Sau khi cài chiếc khuy măng sét tinh xảo, anh khoác lên mình chiếc quần veston đã chọn, rồi bước đến trước tấm gương toàn thân, vô tình che khuất tầm nhìn của tôi. Bộ vest ấy không theo lối cổ điển, mà toát lên vẻ hợp thời, tôn lên đôi vai rộng, eo thon và đôi chân dài săn chắc của anh. Công cuộc chuẩn bị của anh gần như đã hoàn tất. Bên kia khung cửa sổ đối diện giường, màn đêm Chicago đã buông xuống, lấp lánh ánh vàng rực rỡ.
Anh lại bước ngang qua tôi, mở ngăn kéo trên cùng, chống tay lên hông. Ánh mắt anh lướt qua những chiếc cà vạt và nơ được nhân viên sắp xếp gọn gàng, rồi chậm rãi cất lời:
"Sau khi Hopper qua đời, người vợ Josephine đã hiến tặng toàn bộ tác phẩm bà sở hữu cho Bảo tàng Whitney ở New York. Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại và Bảo tàng Metropolitan ở đó cũng lưu giữ những tác phẩm chủ chốt của ông. Phải rồi, New York... không chỉ có Hopper, mà còn là thành phố lý tưởng để chúng ta đắm mình trong các tác phẩm từ nhiều quốc gia và thời đại."
Câu nói thêm của anh nghe như một lời quảng bá cho New York, nhưng dường như anh không cố ý.
Bản dịch thuộc về Ekaterina Team, cập nhật duy nhất trên trang web navyteamn.com, đọc tại trang web chính chủ để ủng hộ nhóm dịch. Truyện không đủ view có thể sẽ bị drop.
💬 Bình luận (0)